Chuyện Khánh Nhật Truyền Giáo - 18.10.2026

Thứ bảy - 31/10/2026 10:39 16 0

Chuyện Khánh Nhật Truyền Giáo - 18.10.2026

atfMs

 

Trong tiến trình lịch sử tổ chức cơ cấu của Giáo hội, Thánh bộ Truyền bá Đức tin (Sacra Congregatio de Propaganda Fide) được thành lập ngày 22.6.1622 dưới thời Giáo hoàng Gregorius XV.

Năm 1967, dưới thời Giáo hoàng Phaolô VI, tên gọi “Thánh bộ truyền bá đức tin” được thay thế bằng tên gọi "Bộ loan báo Tin Mừng cho các dân tộc" (Congregatio pro Gentium Evangelizatione):

Ngày 05 tháng 6 năm 2022 theo Tông hiến Praedicate Evangelium của Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Bộ loan báo Tin mừng” (Dicasterium pro Evangelizatione) được hình thành trên cơ sở hợp nhất giữa “Bộ Loan báo Tin Mừng cho các Dân tộc” và “Hội đồng Tòa Thánh cổ võ Tái truyền giảng Tin Mừng”. “Bộ loan báo Tin mừng” trực tiếp do Giáo hoàng đứng đầu và chia làm hai phân bộ: một phân bộ lo các vấn đề cơ bản về truyền giáo trên thế giới, và một phân bộ lo việc truyền giáo lần đầu cùng các giáo hội địa phương mới. 

Khánh Nhật Truyền Giáo (hay Ngày Thế giới Truyền giáo) là ngày lễ được Đức Giáo hoàng Piô XI thành lập năm 1926, được cử hành vào Chúa nhật áp chót của tháng 10 hàng năm.

Dù tên gọi các Thánh bộ có đổi thay trong dòng lịch sử nhưng hiện nay Lễ Khánh nhật truyền giáo vẫn giữ nguyên tên gọi. Lễ Khánh nhật truyền giáo hôm nay làm sao quên công sức truyền giáo của cha ông, của anh chị em đang ra sức dấn thân bằng cách này hay cách khác. Xin được ghi lại vài mẫu gương và mẩu chuyện tiêu biểu:

I. VỀ LINH MỤC PIÔ NGÔ PHÚC HẬU

Hôm nay, khánh nhật truyền giáo; Hôm qua, lúc 20g20 ngày thứ Bảy, 17.10.2026, Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu được Cha Toàn Năng ký trao sự vụ lệnh cho nghỉ ngơi công việc ở trần thế. 

Nhắc đến Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu là nhắc đến vị Linh mục truyền giáo. Đành rằng truyền giáo là bản chất của Kitô hữu cách chung và Linh mục cách riêng, tuy nhiên biệt danh “Linh mục truyền giáo” được dành cho Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu quả là xứng đáng. 

Nhắc đến Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu là nhắc đến “Nhật ký truyền giáo” của ngài, một nhật ký có lửa, nhật ký do chính ngài viết khi truyền giáo ở Năm Căn, Cái Rắn…vùng sông nước thuộc giáo phận Cần Thơ. 

Cần Thơ, …1965

Hôm nay mình lên Tòa Giám mục.

Thưa Đức cha, hôm qua con rửa tội cho một bà cụ đạo Phật. Bà xin giữ bàn thờ Phật. Con biểu bà để tượng Chúa trong lồng kiếng ở chỗ quan trọng nhất trong nhà, còn tượng Phật thì để ở kế bên. Bà tin Chúa là Đấng cao cả, nhưng bà thương Đức Phật quá.

Được lắm ! Cha có sáng kiến hay.

Mình ra về, tâm hồn nhẹ phơi phới.

Núi Sam, … 1969

Thưa Đại đức, trong chùa có chỗ nào thuận tiện, Đại đức cho tôi mượn chừng nửa giờ để tôi dâng thánh lễ được không ?

Ở đây thì không tiện. Ở ngoài cổng có một phòng khách rộng lắm, linh mục có thể ở đó và dâng lễ tự nhiên. Chùa cho mượn bàn để làm bàn thờ. Đèn của chùa, hoa của chùa, chuông của chùa, chỉ có mình là của Chúa.

Lần đầu tiên trong đời, mình dâng thánh lễ trong khuôn viên nhà chùa. Chúa ngự ở đây và chắc chắn Chúa yêu thương nơi này. Từ phòng khách mình giang tay cầu nguyện, mắt nhìn lên cao như­ng vẫn lo ra nhìn về chính điện. Ở đó tượng Phật to lớn ngồi thiền giữa rừng hương nhang, yên tĩnh, thân thương.

Cần Thơ, …. 1970 

Chủ đề tĩnh tâm Giáo phận năm nay là truyền giáo. Đức Giám mục hô hào đẩy mạnh phong trào truyền giáo. Phương pháp truyền giáo là phát triển Dân Sinh, Dân Trí và Dân Đạo…. Bất ngờ ngài nói với anh em một câu của một vị thừa sai nào đó:

“Linh mục Việt Nam chỉ có tài coi sóc họ đạo, chứ không biết gầy dựng họ đạo”.

Vì tự ái dân tộc, mình giơ tay và đứng bật lên như m­ột cái lò xo :

– Thưa Đức cha, không phải linh mục VN không biết gầy dựng họ đạo, nhưng vì chưa có “Bài sai” (Văn thư bổ nhiệm một linh mục do Đức Giám Mục ấn ký) của Đức cha.

Mình hung hăng chừng nào thì Đức Giám mục bình tĩnh chừng ấy. Với giọng trầm buồn, ngài thủng thẳng trả lời :

– Tôi biết đi truyền giáo thì thiếu thốn và cực khổ nhiều lắm, nên không nỡ tâm sai các cha đi. Cha nào tình nguyện thì tôi mới dám. Vậy cha nào tình nguyện thì giơ tay lên.

Cần Thơ, … 1971

Reng… Reng…

– Alô, nhà thờ Chánh Tòa tôi nghe.

– Cha Hậu đó phải không ?

– Thưa Đức cha, vâng.

– Cha lên Tòa Giám mục gặp tôi ngay bây giờ.

– Dạ.

Cầu thang Tòa Giám Mục làm bằng đá mài màu xanh trông thật mát mắt. Nhưng sao lòng mình chẳng dịu mát chút nào. Mình bước lên thật chậm như muốn níu kéo thời gian lại. Mình rón rén đến trước cửa phòng Đức Giám mục và gõ thật nhẹ. Hôm nay lần đầu tiên mình phải đối diện với Đức Giám mục. Chuyện gì sẽ xảy ra ? Chuyện vui thì chắc không phải, còn chuyện buồn thì là chuyện gì, tại sao ?

Có tiếng dép lê trên nền gạch bông, cánh cửa mở toang. Đức Giám mục cười vui vẻ :

– Ờ, Cha Hậu, ngồi xuống đây. Thuốc đây, cha hút đi. Cha hút thuốc lào thì thuốc này nhằm nhò gì.

Ngài đẩy cho mình gói Bastos xanh rồi e hèm lấy giọng. Thấy ngài cởi mở, nhịp tim mình bắt đầu trở lại bình thường.

– Cha xin đi truyền giáo thì tôi cho cha được toại nguyện. Có hai nơi tôi chọn làm thí điểm truyền giáo : một là Cái Tắc , hai là Năm Căn . Cha muốn đi nơi nào tùy ý cha…

 Năm Căn, …. 1976

Hôm nay mình trở lại Năm Căn… Vô nhà nào cũng thấy một mâm dưa hấu.

– Ăn đi ông cha! Ăn hết mới được về.

– Chắc tôi chết quá!

– Còn một nồi cháo vịt nữa. Thấy bóng ông cha ở bên đó, thì bên này tôi bắt đầu mần vịt. Gặp ông cha, tôi mừng hết biết. Tưởng không bao giờ còn gặp lại ông nữa.

Chỉ trong vòng ba tiếng đồng hồ, tụi mình phải thanh toán hết ba nồi cháo vịt và hằng chục mâm dưa hấu. Người Năm Căn như thế đó. Ăn cho “chết” để có tình. Uống cho “chết” để làm anh em. Chất phác, cuồng nhiệt, và dễ thương.

Bến Bọng, … 4-1975

Sáng nay mình tản bộ trên mảnh sân nhỏ. Mình đi tới đi lui và lần hạt. Cứ mỗi lần tới đầu sân rồi quay gót, thì đám nhí đứng rình ở gốc dừa lại cười hí hí… Một lát sau bà chủ nhà hỏi vọng ra:

– Anh Tám làm gì mà cứ đi tới đi lui hoài vậy ?

– Tôi đọc kinh, chị ạ.

– Đọc kinh thì vô nhà ngồi mà đọc, ai lại đi tới đi lui kỳ vậy ?

…Đó là hình ảnh quen thuộc mà không một linh mục, một tu sĩ, hoặc một tín hữu nào lấy làm lạ. Bỗng hình ảnh thân thuộc ấy hôm nay lại trở thành trò cười cho trẻ nít và cho bà chủ nhà, người đang có nhiệm vụ quản lý mình.

Mình còn nhớ cách đây ít bữa bà chủ nhà tâm sự với mình:

– Tôi thấy đạo của anh cái gì cũng hay, mà có một cái tôi không chịu, đó là đi vệ sinh cũng đọc kinh.

Vừa đi dạo vừa cầu nguyện, vừa đi vệ sinh vừa đọc kinh, thì có gì là xấu ? Nhưng trình bày Tin Mừng như thế cho người dân ở đây thì có phải là hội nhập văn hóa không ? Mình cảm thấy lúng túng… bèn viết một lá thư ngỏ gởi Thánh Phaolô, vị tông đồ dân ngoại.

Bố kính mến,

Con cảm thấy con giống bố quá chừng. Những ngày ấy bố phải trốn khỏi xứ Makêđônia, để một mình thơ thẩn ở Atêna. Bố đi dạo phố. Bố ngứa mắt vì phải thấy các pho tượng dựng lên khắp nơi trên các đường phố. Bố là người Do Thái, bố là người biệt phái, bố ghét ảnh tượng như tà ma. Bố không hòa nhập được vào tâm hồn của người Atêna. Atêna là trung tâm nghệ thuật. Người Atêna say mê nghệ thuật, nghệ thuật hiện thực. Cái làm cho họ say mê, thì lại làm bố nổi giận (Cv 17,16). Bố bóp trán suy nghĩ, bố vận dụng triết học để quật ngã bọn trí thức đa thần trên đồi Arêôpagô. Nhưng kết quả hôm đó chỉ là một kỷ niệm buồn (Cv 17,32-34). Con hiểu bố và xin chia sẻ với bố trong chuyến đi bất đắc dĩ này. Bố là con chim gáy lạc điệu trong cái lồng Atêna. Con mừng vì bố thất bại. Chỉ khi thất bại, thì bố mới giống con, gần gũi và thân thương với con… Con thật lòng nói thế. 

II. VỀ ĐỨC GIÁM MỤC GIOAN BAOTIXITA BÙI TUẦN

Đức Giám mục Gioan Baotixita Bùi Tuần, Giám mục giáo phận Long Xuyên, vị Giám mục là tác giả rất nhiều bài báo, nhiều tác phẩm. Nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Hải đã có nhận xét: “Giám mục là một nhà văn không đứng trong hội nhà văn nào, viết không với chủ đích làm văn học, nhưng đã làm thổn thức rung động bao con tim....”

Bài viết “Hội thánh Việt Nam sau đại lễ và đại hội” đã thể hiện nỗi lòng của ngài: “Đại Lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội đã qua rồi, Đại Hội các Giám mục Việt Nam cũng đã kết thúc. Hội Thánh Việt Nam, dù muốn dù không, sẽ chịu ảnh hưởng bởi Đại Lễ và Đại Hội. Đại Lễ cho thấy chỗ đứng của Hội Thánh Công giáo trong lịch sử Đất Nước hôm nay là khiêm tốn. Đại Hội cho thấy nhiều chọn lựa của Hội đồng Giám mục Việt Nam là dè dặt.

Hội Thánh sẽ làm chứng về Chúa thế nào trong những điều kiện cụ thể của xã hội Việt Nam lúc này một cách sống động và có hiệu quả ? Đó là câu hỏi nên đặt ra. Dưới đây là một suy tư xin mạo muội đóng góp.

1/ Những dấu chỉ nên cân nhắc

Trước hết, Hội Thánh chúng ta nên tỉnh táo khôn ngoan trong việc chọn lựa những dấu chỉ về Hội Thánh địa phương chúng ta. Thí dụ : Trình bày những hình ảnh các cơ sở tôn giáo huy hoàng tráng lệ có thể thu hút được một số người. Nhưng cũng dễ trở thành lỗi thời, khi những cơ sở như thế chỉ được nhìn như những công trình xây dựng khác. Nhất là khi những cơ sở tôn giáo đó lại thiếu những nét có sức gây được bầu khí linh thiêng và thiếu tiềm năng giáo dục. Trình bày các biểu dương rầm rộ hoành tráng có thể gây phấn chấn cho một số người. Nhưng cũng dễ trở thành mờ nhạt trong một xã hội đang có quá nhiều lễ hội. Nhất là khi những biểu dương ấy lại thiếu chiều sâu về đức tin, mà chỉ nặng về phô trương dễ bị lợi dụng…

Hình ảnh là một ngôn ngữ. Hình ảnh là dấu chỉ. Ngôn ngữ dấu chỉ, nếu được chọn lựa đúng, sẽ giúp rất nhiều cho việc loan báo Tin Mừng. Với mục đích đó, chúng ta nên chọn những hình ảnh nào có giá trị như một dấu chỉ sống động về Tin Mừng Đức Kitô.

2/ Những dấu chỉ nên chọn

Thiết tưởng hình ảnh như thế sẽ chính là đời sống của mỗi người chúng ta. Đời sống thường nhưng mà sâu.

Đời sống thường là đời sống thường ngày. Mỗi người có một đời sống thường riêng của mình, tại gia đình, trong xã hội, nơi những lãnh vực khác nhau, với những hoàn cảnh riêng.

Trong cuộc đời thường ấy, chúng ta sống đức tin một cách sâu xa. Sâu xa được hiểu trước hết ở sự chúng ta kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu. Chúng ta hiệp thông với tình yêu của Người, sự thương khó của Người và sự phục sinh của Người. Đức Kitô trở thành sức sống của ta.

Với sức sống tình yêu của Đức Kitô trong mình, chúng ta dấn thân phục vụ con người. Phục vụ như Đức Kitô. Nghĩa là phục vụ như người đầy tớ, đầy hiền lành, khiêm tốn, yêu thương. Phục vụ của chúng ta lúc đó luôn hướng về sự hiến thân của Đức Kitô trên thánh giá. Để rồi, sự hiến thân của chúng ta cũng là một dâng hiến trọn vẹn của tình yêu.

Sự phục vụ như thế là một chiến đấu cam go, vừa làm việc lành, vừa đẩy lùi sự ác. Nhưng có Chúa ban sức mạnh cho chúng ta. Sức mạnh ấy là một kho tàng vô giá.“Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2 Cr 4,7)…

III. BỘ RỄ CỦA THÂN CÂY

Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn,

Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

Bộ rễ ở dưới mặt đất, mắt không thấy. Nếu bộ rễ yếu, cây không thể phát triển. Mắt nhìn thấy thân cây, hoa lá cành và trái. Tai nghe tiếng lá rì rào. Bộ rễ âm thầm cung cấp nhựa sống cho cây, cho hoa lá cành và trái. Hình ảnh này gợi nhớ đến những kitô hữu âm thầm sống đức tin, kiên trung với đức tin trong những hoàn cảnh khó khăn, khó khăn vì tuổi tác, khó khăn vì đau yếu, khó khăn vì xa xôi nhà thờ, khó khăn vì không có nhà thờ để cùng sum họp thờ phượng Chúa…những cuộc sống đức tin ấy như những bộ rễ cung cấp nhựa sống cho thân cây Giáo hội. Giáo hội ở Rôma, ở Việt Nam, ở Hàn Quốc, ở Nhật Bản…được lớn lên nhờ những bộ rễ ấy. Bộ rễ thì không được ai thấy, hoa lá cành thì được nhiều người thấy. Nếu thấy mà thích, thì được nhiều lời trầm trồ khen ngợi. Nhưng lời nói gió bay, chỉ có Lời của Đấng Ban Sự Sống mới còn mãi "Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói sẽ chẳng bao giờ qua đi". (Mt 24,35) 

Đã từng là những cái rễ con con:

1. Chị Maria Đinh Thị Pi 

Chi Pi, người dân tộc H’Rê ở thôn Đồng Tròn, xã Long Sơn huyện Minh Long, Quảng Ngãi. Chị là một tân tòng. Chị đi mưu sinh ở Đồng Nai theo thời vụ. Chị gặp anh Simon Nguyễn Đức Thanh. Anh chị kết hôn. Chị không thể bỏ rẫy rừng ở quê nhà. Anh chị về Minh Long sinh sống. Từ nhà chị đến nhà thờ Kỳ Thọ (Kỳ thọ Bắc, Hành Đức, Nghĩa Hành) có 03 đường đi. Đường xa nhất 46,4 km, đường ngắn nhất 41,5 km, đường trung bình 43 km. Dù đường sá xa xôi nắng mưa cách trở, chị không bỏ lễ Chúa nhật. Chúa nhật nào với chiếc xe cà tàng đời ơ kìa, chị và đứa con gái út vẫn đến nhà thờ Kỳ Thọ để dâng lễ. Mùa mưa lũ, nếu đường nào bị sạt lở không đi được thì chị tìm con đường khác mà đi. Chị như ba vị Đạo sĩ thời hiện đại, khi bị mất ánh sao trên trời chỉ đường thì đi hỏi thăm tìm cho được vị Vua mới sinh, không bỏ cuộc. 

Cám ơn chị. Chị cho tôi thấy bằng chứng sống động lời Chúa Giêsu đã dạy: "Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy. Nước Trời lại giống như một thương gia đi tìm ngọc quý. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy”. (Mt 13,44-46). Chị ơi, mặc dù chị nghèo xơ nghèo xác, chị không có đủ tiền để nuôi hai đứa con lớn ăn học, chị phải gởi hai cháu về nội ở Đồng Nai, nhờ nội thương giúp. Chị không như thương gia kia giàu tiền giàu của. Gia tài của chị là một khối mồ hôi, là một đống công khó, chị bán gia tài ấy để mua cho được viên ngọc quý hàng hiệu có dán tem bảo đảm chất lượng ISO 992204 (Trường cửu mãi mãi không chết) của chính hãng Nước Trời. 

Cám ơn chị, người con của núi rừng. Những người con có những lễ hội, chẳng hạn Lễ Cúng Mở Kho Lúa nhằm tạ ơn thần linh đã cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Lễ Cúng Bến Nước, nguồn nước mang lại sự sống cho người, cho súc vật, cho chim muông, cho lúa bắp, cho rừng xanh lá…do nữ thần Vada cai quản. 

Bộ thổ cẩm H’Rê của chị có ba màu đen, trắng, đỏ làm nền rất rỏ rệt. Trong đó: Màu đen là màu nền chủ đạo, thể hiện sự kín đáo, dịu dàng và tượng trưng cho mẹ đất.

Màu trắng tượng trưng cho nước, kết hợp hài hòa giữa đất và nước đem lại sự sống cho người và muôn vật.

Màu đỏ tượng trưng cho thần linh, sức sống và nhiệt huyết.

Trong các lễ hội có cồng chiêng nè, có làn điệu dân ca Ta Lêu nè, làn điệu Ca Choi nè,  có ché rượu cần nè, có múa xoang nè, khi gia đình có người chết, có hát Tà Oi nè, ở nhà sàn nè…nói chung, sinh hoạt tín ngưỡng và văn hóa dân tộc H’Rê của chị đã ghi vào máu thịt chị lòng biết ơn mẹ thiên nhiên, biết sống hài hòa với triết lý thiên địa nhân. Đấng Sáng Tạo đã ghi vào lòng dân tộc H’rê dấu ấn của Ngài. Dấu ấn ấy chị đã đọc được rõ ràng và nhận ra đó là Thiên Chúa, là Đấng sáng tạo vũ trụ vạn vật, là Cha Toàn năng. Thiên Chúa là Cha toàn năng đã yêu thương thế gian, yêu thương chị, yêu chồng con chị, yêu dân làng… yêu đến độ đã ban Con Một Ngài, Đức Giêsu. 

2. Chị Năm làng Kà Xim, Canh Thuận, Vân Canh

Chị Năm ở làng Kà Xim cưới chồng ở Kon Tum, cùng dân tộc Bana với chị. Hai vợ chồng chị sinh sống ở làng Kà Xim. Năm 2008, anh qua đời. Cha Antôn Pađua Trần Liên Sơn, cha sở giáo xứ Ngọc Thạnh (Vân Canh thuộc địa bàn Ngọc Thạnh), cử hành thánh lễ an táng tại nhà anh chị. Hơn 10 ngày sau, chị được Già làng cho biết: Nếu gia đình chị muốn ở tại làng thì phải cất bàn thờ, tháo thánh giá đã cắm trên mộ của anh. Nếu không làm thì phải ra khỏi làng, muốn sống ở đâu thì sống. Lệnh Già làng làm chị hết nước mắt một lần nữa. Chị bối rối, chị cuống cuồng không biết phải chọn lựa thế nào. 

Hôm đám tang anh, mình không có mặt. Mấy hôm sau có dịp đi Đa Lộc, ghé thăm chị, mới hay biết nỗi lòng chị.

- Chị Năm ơi, cây ổi ở góc sân nhà chị đó, trái sai ghê, trái ngon không chị?

- Ngon lắm ông cha. Mình hái một trái đang chín tới, màu da trắng láng, ừ ổi ngọn thiệt chị Năm ơi, giòn, chua chua, ngọt ngọt. Mình hái thêm mấy trái, bỏ bị mang đi.

- Chị Năm ơi, chị em mình thấy cây ổi có trái, trái ngon lắm. Chị em mình đâu có thấy được cái rễ của nó. Nhưng nó nhờ cái rễ, nó hút nước, nó hút phân dưới đất, nó làm cho trái ngon. Chị nghe lời Già làng đi. Chị làm cái rễ như rễ ổi vậy, âm thầm giữ đức tin. Giữ đạo trong âm thầm cùng với những hy sinh để cầu nguyện cho anh, cho dân làng, cho họ đạo Vân Canh của mình, Chúa vui lắm đó. Chị đừng ra khỏi làng, khó sống lắm, có khi sống không được đâu. Hằng ngày có xe buýt Vân Canh – Qui Nhơn, chị nhớ Chúa, đi lễ Chúa nhật, chị xách cái giỏ như đi chợ, chị lên xe buýt xuống Ngọc Thạnh đi lễ. Để em nói với cha Sơn, cha sẽ bỏ vào giỏ của chị gói mì, chai dầu, chai nước mắm như chị đi chợ về. Chị Năm vui vẻ chịu làm bộ rễ như thế.

Ngày 19.03.2010, Đức cha Phêrô, Giám mục Qui Nhơn chủ sự nghi thức đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà sinh hoạt giáo họ Thịnh Văn (Vân Canh) trên diện tích 66 m² (6m x 11m). Dần dần có linh mục đến dâng lễ, ở thường xuyên, và thành lập giáo xứ vào ngày 15 tháng 5 năm 2025. Cây có trái như thế, chẳng lẽ không nhờ cái rễ con con mang tên chị Năm đó sao ? 

Cám ơn chị Năm nhé.

IV. HẸN GẶP LẠI

Đến đây, tạm biệt, hẹn gặp nhau trên chiếc cầu hai vị Giám mục Phêrô và Giám mục Gioan xây dựng. Khi hai vị lên đền thờ, hai vị gặp một người bất toại từ lòng mẹ, anh ngữa tay xin bố thí như mọi khi… Giám mục Phêrô nói: "Vàng bạc thì tôi không có, nhưng có cái này tôi cho anh, là: nhân danh Đức Giêsu Kitô Nadarét, anh hãy đứng dậy mà đi!" anh cùng hai ngài tiến vào đền thờ, anh vừa đi vừa nhảy nhót và ngợi khen Thiên Chúa, và dân chúng đều thấy anh đi và ngợi khen Chúa. (Cv 3,1-9)

Hai Giám mục bèo quá không có lấy đồng xu dính túi để bố thí. Hai Giám mục được chính Đức Giêsu huấn luyện. Hai Giám mục đã từng theo Thầy đi loan báo Tin Mừng, có lần nhịn đói chịu hết nổi phải bứt bông lúa mì ăn đỡ bữa. Trong vườn dầu, Giám mục Phêrô muốn dùng gươm bảo vệ Thầy nhưng khẩu lệnh cương nghị cứng ngắt của Thầy “hãy xỏ gươm vào vỏ”, Giám mục Phêrô phải bặm môi, phải cắn răng thi hành lệnh. Giám mục Gioan cùng với anh mình là Giám mục Giacôbê khi thấy dân làng Samari không mặn mà đón tiếp Thầy mình, hai Ngài nổi máu anh hùng “Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?” Thế là bị Thầy mắng cho một trận no luôn. Và Người nói với các ông: “Anh em không biết anh em thuộc loại thần khí nào. Vì Con Người không đến để làm cho người ta mất mạng, nhưng là để cứu mạng”. (Lc 9, 51-56)

Thầy huấn luyện có khi như mật rót vào miệng, có khi cương nghị, cứng rắn, đau! thấm lắm rồi. Biết mục đích của Thầy rồi. Mình chỉ làm chiếc cầu nối dẫn đến Đức Giêsu Kitô Nadarét.

Cha Piô Ngô Phúc Hậu xây cầu nối dẫn đến Đức Giêsu Nadarét  bằng đời sống tình nghĩa với đồng bào. Anh ba anh tư, chị bảy, chú mười…cùng vui cùng khóc với nhau, cùng xuề xòa chuyện trò với nhau có khi cả ngày. 

Đức cha Gioan Baotixita Bùi Tuần xây cầu nối dẫn đến Đức Giêsu Nadarét bằng đời sống đời thường của mỗi người. Đời thường nhưng mà sâu nhờ kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu nhập thể, tử nạn và phục sinh.

Chị Pi ở Minh Long, Quảng Ngãi, chị Năm ở Vân Canh, Bình Định và nhiều cô chú anh chị đã, đang xây dựng cầu nối dẫn đến Đức Giêsu Nadarét bằng sự âm thầm kiên trung sống đức tin, họ như bộ rễ cung cấp nhựa sống cho thân cây đơm hoa kết trái. 

 

Tác giả bài viết: Lm. Gioan Võ Đình Đệ

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Tuyển tập Mục Đồng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây