Maria Mácđala là con người yêu mến. Theo Tin Mừng Gioan, bà đã theo Thầy Giêsu đến tận Đồi Sọ, đã đứng gần thập giá và chứng kiến cái chết của Thầy (Ga 19, 25). Hầu chắc bà đã tham dự cuộc mai táng Thầy và biết vị trí của ngôi mộ. Hơn nữa, bà là nguời ra mộ sớm nhất vào ngày thứ nhất trong tuần. Rồi bà chạy về báo tin cho các môn đệ về chuyện xác Thầy không còn đó (20, 1-2).
Không chỉ là ngôi mộ trống với lời chứng của thiên thần, mà còn là lời chứng của chính họ, của người đã chứng kiến tận mắt và đụng chạm. Đức Giêsu phục sinh dám nhờ các phụ nữ làm chứng, dám nhờ các phụ nữ đi loan Tin Mừng cho các môn đệ của mình, dù thời của Ngài người ta không tin lời chứng của phụ nữ. Chúng ta không quên những đóng góp của các phụ nữ cho Giáo Hội từ thời đầu. Mong vai trò ấy vẫn được đề cao và tôn trọng.
Đa số chúng ta đều đã lãnh nhận đức tin dễ dàng và vẫn ở trong sự dễ dãi thụ động ấy : “Vâng, tôi là một Ki-tô hữu, đi lễ đọc kinh đàng hoàng”. Nhưng không khí chúng ta thở thì độc hại đối với các tin tưởng và việc hành đạo của chúng ta. Trong một bầu khí tìm lợi nhuận và thích hưởng thụ, trong sự tấn kích thường xuyên của các triết gia, khoa học gia, chính trị gia, của các dư luận quần chúng, của các phương tiện truyền thông xã hội, việc tin vào sự Phục sinh đòi hỏi một nền văn hóa của đức tin, ít nhất trong các gia đình và các cộng đoàn.
Về ngôn ngữ của di ngôn thứ tư trong Phúc Âm của Mát-thêu, một số nhà chú giải Thánh Kinh đã nhận định, đó là âm điệu của ngôn ngữ A-ram và của tiếng Híp-ri. Theo Gnilka, trong khi Mác-cô dùng từ Ê-lô-i, thì Mát-thêu dùng từ Ê-li là âm điệu của tiếng Híp-ri, còn xa-bác-tha-ni là âm điệu của tiếng A-ram. Sau đó mới được dịch qua tiếng Hy-lạp.[1]
Lạy Thầy Giêsu, Thầy để lại cho chúng con một di chúc bằng hành động. Thầy đã nêu gương cho chúng con noi theo, để rửa chân chẳng còn là chuyện nhục nhã, nhưng là mối phúc. Xin cho chúng con thấy Thầy vẫn cúi xuống trên đời từng người chúng con, để nhờ đó chúng con có thể cúi xuống trên đời những ai khổ đau bất hạnh.
Lạy Chúa Giêsu trên thập giá,xin cho con dám liều theo Chúamà không tính toán thiệt hơn,anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ,can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim,và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.
Trong bữa tiệc tại nhà của chị em Mácta, Maria, Ladarô, tại Bêtania,Đức Giêsu được mời như một vị khách, có cả môn đệ của Ngài nữa.Bữa ăn tối này là một cử chỉ diễn tả lòng kính trọng, yêu mến, và biết ơncủa cả gia đình đang vui sướng trước sự trở lại từ nấm mồ của người thân yêu.Ladarô hẳn sẽ được ngồi gần Thầy Giêsu, Đấng thương mến anh (Ga 11,3),Đấng trả lại cho anh sự sống.
Trong bữa tiệc tại nhà của chị em Mácta, Maria, Ladarô, tại Bêtania, Đức Giêsu được mời như một vị khách, có cả môn đệ của Ngài nữa. Bữa ăn tối này là một cử chỉ diễn tả lòng kính trọng, yêu mến, và biết ơn của cả gia đình đang vui sướng trước sự trở lại từ nấm mồ của người thân yêu. Ladarô hẳn sẽ được ngồi gần Thầy Giêsu, Đấng thương mến anh (Ga 11,3), Đấng trả lại cho anh sự sống.
Cả cuộc đời Chúa Giêsu là Hy tế. Nơi Chúa Giêsu, mọi sự đều là của lễ, từ lời giảng dạy đến các phép lạ, từ những cử chỉ và lời nói thông thường cho đến sự hy sinh lớn lao nhất là hiến dâng mạng sống. Mọi sự đều biểu lộ tình yêu dâng hiến trọn vẹn cho Chúa Cha. Sự dâng hiến của Chúa Giêsu được hoàn tất bằng cái chết và nơi cái chết tự nguyện trên thập giá.
Ngay từ lời khai mạc (26,1-2), đang khi Mác-cô ghi thoáng một chỉ dẫn thời gian (“Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men” Mc 14,1), Mát-thêu nêu rõ cả ý nghĩa của sự việc sắp thể hiện: “Anh em biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sắp bị nộp để chịu đóng đinh vào thập giá”. Khác với trước đây (12,15; 14,13), bây giờ Đức Giê-su không lánh đi nữa; Người đối đầu với số mệnh của mình. Ở đây Người nói trước rất rõ về số mệnh ấy. Nhất là Người liên kết số mệnh của mình với lễ Vượt Qua để mặc khải ý nghĩa của nó.