Người nữ tu Mến Thánh Gía còn một diễm phúc hơn nữa đó là : khi sống đặc sủng Mến Thánh Gía, chị em được tham dự vào sứ mạng cứu thế của Người. Như thế, khi sống mầu nhiệm Thánh Gía trong đời mình, người nữ tu giới thiệu, làm chứng con cho con người trong thế giới hôm nay về giá trị cao cả của Thập Gía. Không thể so sánh giữa những lao nhọc, đau khổ trần thế với hạnh phúc thiêng đàng nơi mà Đức Giêsu đã hứa cho những ai trung thành mà Thánh Phao Lô đã trải ghiệm, những đau khổ đời này không thể so sánh với vinh quang đời sau.
Kitô giáo gắn liền với thánh giá. Kitô hữu suy tôn thánh giá, hôn kính thánh giá. Thánh giá không chỉ có mặt trong nhà thờ hay trên các đồ thánh, mà còn đi suốt hành trình cuộc đời của một tín hữu, từ giếng nước rửa tội đến khi ra nghĩa trang. Thánh giá nhắc cho ta về một cái chết khủng khiếp và bi đát, nhưng đời Kitô hữu lại không bao giờ là cuộc đời buồn. Ngược lại, niềm vui tươi tắn là nét đặc trưng của Kitô giáo.
“Điều làm Cha được tôn vinh là anh em sinh trái nhiều” (c. 8). Vinh quang của Cha không nghịch với sự triển nở thật sự của con người. Sự èo uột, cằn cỗi của chúng ta mới là nỗi nhục cho Thiên Chúa. Hãy sinh trái nhiều nhờ chấp nhận những cắt tỉa của Cha qua lời của Giêsu.
Giữa lúc bị cuộc đời từ khước, giữa lúc bơ vơ đi trong đêm mênh mông, chẳng có ai để cậy dựa, xin trở về với cõi riêng bên Giêsu, để một mình ở đó, trầm lắng và bình an.
Nếu coi thiên đàng là nơi con người được hạnh phúc bên Thiên Chúa, trong một tương quan tình yêu, diện đối diện và vĩnh viễn, thì thiên đàng ấy đã chớm nở ngay từ đời này rồi. Khi yêu Thầy Giêsu, người môn đệ sẽ được Thầy yêu lại. Hơn nữa, chính Chúa Cha cũng yêu mến người ấy (c. 21). Và điều con người không dám mong sẽ xảy ra sau Phục sinh : “Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy và sẽ ở lại với người ấy” (c. 23).
“Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha”, Phi-líp-phê nói thế, tưởng đã hiểu. Thánh Gio-an thích trình bày những lối hiểu nông cạn như vừa thấy, chúng tạo dịp cho Đức Giê-su đưa thính giả mình đến “chỗ khác” của mầu nhiệm. Người quở mắng Phi-líp-phê bằng một lối hài hước hơi nhuốm vẻ chán nản : “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha !? Anh muốn Thầy làm cho Người xuất hiện ư ? Còn Thầy thì sao ? Đã lâu thế mà anh vẫn không nhận biết Thầy à ?” Người ta cảm thấy có một mạc khải lớn lao đang đến. “Phi-líp-phê, anh không tin Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.”
Đức Giêsu đã về với Chúa Cha và được vào trong vinh quang. Khi tin vào Ngài, khi gắn bó với một Đấng phục sinh quyền năng như thế, chúng ta có thể làm được những điều như Ngài đã làm : trừ quỷ, chữa bệnh, hoàn sinh kẻ chết (Mc, 16, 17-18; Cv 9, 34.40). Và như Đức Giêsu, điều vĩ đại mà chúng ta có thể làm cho thế giới hôm nay là yêu thương, yêu như Thầy đã yêu, yêu đến hiến mạng.
Sách Công vụ Tông đồ có một lối nói đặc biệt để chỉ Kitô giáo. Tôn giáo mới này được gọi Đường của Chúa (Cv 18, 25-26), hay thường xuyên hơn, được gọi là Đường (Cv 19, 9. 23; 22, 4; 24, 14. 22). Sách Công vụ cũng có lối nói đặc biệt để chỉ các Kitô hữu. Họ được gọi là những người thuộc về Đường (Cv 9, 2), và họ đã chịu bách hại vì theo con đường này, theo Đạo này.
Chọn sống đời thánh hiến, người tu sĩ tự nguyện đáp trả tình yêu Thiên Chúa bằng “tình yêu duy nhất cho Người” và bước theo Đức Giêsu Kitô cách mật thiết, gần gũi hơn. Trên hành trình tận hiến, người tu sĩ một cách tiệm tiến được mời gọi để nên giống Thầy Giêsu mỗi ngày một hơn. Để được như thế, người tu sĩ phải từ bỏ cuộc sống riêng tư để trọn đời khuôn mình theo chương trình của Thiên Chúa. Hy sinh nào cũng phải trả giá; và cái giá lớn nhất khi theo Thầy Chí Thánh là “từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”. Một khi yêu Giêsu, người tu sĩ sẽ vác lấy thập giá trong niềm vui và an bình. Đây là tình yêu biện chứng của người tu sĩ: Tình yêu giúp họ sống niềm vui, niềm vui sẽ giúp tình yêu của họ được thăng hoa, triển nở.
Lạy Thầy Giêsu, khi Thầy rửa chân cho các môn đệ chúng con hiểu rằng Thầy đã làm một cuộc cách mạng lớn. Thày dạy chúng con một bài học rất ấn tượng khi Thầy bưng chậu nước, bất ngờ đến với các môn đệ trong bữa ăn, khi Thầy cúi xuống, dùng bàn tay của mình để rửa chân rồi lau chân cho họ. Chắc Thầy đã nhìn thật sâu vào mắt của từng môn đệ và gọi tên từng người. Giây phút được rửa chân là giây phút ngỡ ngàng và linh thánh.