Bình minh báo trước Mặt Trời Công Chính

Thứ hai - 07/09/2026 22:41 66 0
 
Bình minh báo trước Mặt Trời Công Chính
(Bài giảng trong lễ sinh nhật Đức Mẹ - LM. Anmai, CSsR )


 
Tin Mừng: Mt 1,1-16.18-23
 
Đây là gia phả Đức Giêsu Kitô, con cháu vua Đavít, con cháu tổ phụ Ápraham. Ápraham sinh Ixaác; Ixaác sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuđa và các anh em ông; Giuđa ăn ở với Tama sinh Perét và Dêrác; Perét sinh Khétrôn; Khétrôn sinh Aram; Aram sinh Amminađáp; Amminađáp sinh Nácson; Nácson sinh Xanmôn; Xanmôn lấy Rakháp sinh Bôát; Bôát lấy Rút sinh Ôvết; Ôvết sinh Giêsê; Giêsê sinh Đavít. Vua Đavít lấy vợ ông Urigia sinh Salômôn; Salômôn sinh Rơkhápam; Rơkhápam sinh Avigia; Avigia sinh Axa; Axa sinh Giôsaphát; Giôsaphát sinh Giôram; Giôram sinh Útdigia; Útdigia sinh Giôtham; Giôtham sinh Akhát; Akhát sinh Khítkigia; Khítkigia sinh Mơnase; Mơnase sinh Amôn; Amôn sinh Giôsia; Giôsia sinh Giơkhônia và các anh em vua này, kế đó là thời lưu đày ở Babylon. Sau thời lưu đày ở Babylon, Giơkhônia sinh Sơantiên; Sơantiên sinh Dơrúpbaven; Dơrúpbaven sinh Avihút; Avihút sinh Engiakim; Engiakim sinh Ado; Ado sinh Xađốc; Xađốc sinh Akhin; Akhin sinh Êlihút; Êlihút sinh Elada; Elada sinh Mátthan; Mátthan sinh Giacóp; Giacóp sinh Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu, cũng gọi là Đấng Kitô.

Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã đính hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” Tất cả sự việc này đã xảy ra là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel”, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

Bài giảng
 
Hôm nay Hội Thánh hân hoan mừng lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria. Phụng vụ của Hội Thánh rất dè dặt khi mừng ngày sinh của các thánh, bởi thông thường ngày được mừng kính chính là ngày các ngài hoàn tất cuộc lữ hành trần thế để bước vào sự sống vĩnh cửu. Thế nhưng, ngoài ngày sinh của Đức Giêsu Kitô, Hội Thánh còn long trọng mừng ngày sinh của thánh Gioan Tẩy Giả và ngày sinh của Đức Trinh Nữ Maria. Gioan chào đời để trở thành tiếng hô trong hoang địa, dọn đường cho Đấng Cứu Thế; còn Đức Maria chào đời để trở thành người Mẹ trao ban Đấng Cứu Thế cho nhân loại. Bởi thế, ngày sinh của Mẹ không chỉ là niềm vui của một gia đình nhỏ bé tại Israel, không chỉ là ngày ông Gioakim và bà Anna được an ủi vì có một người con, nhưng còn là ngày cả lịch sử cứu độ bắt đầu rạng sáng.

Nếu Đức Kitô là Mặt Trời Công Chính chiếu soi những ai đang ngồi trong bóng tối tử thần, thì Đức Maria chính là ánh bình minh dịu dàng báo trước Mặt Trời ấy đang đến. Bình minh chưa phải là mặt trời; Mẹ không phải là Đấng Cứu Độ. Bình minh không tự mình tạo ra ánh sáng; Mẹ không phải là nguồn mạch của ân sủng. Nhưng cũng như ánh bình minh đón nhận ánh sáng từ mặt trời và loan báo mặt trời sắp xuất hiện, toàn thể vẻ đẹp, sự thánh thiện và vinh quang của Đức Maria đều đến từ Đức Kitô và đều hướng chúng ta về Đức Kitô. Mừng sinh nhật Mẹ vì thế không phải là dừng lại nơi Mẹ, nhưng là cùng với Mẹ vui mừng vì Thiên Chúa đã bắt đầu thực hiện lời hứa cứu độ của Người. Nhìn thấy Mẹ, nhân loại có thể tin rằng đêm tối không còn kéo dài mãi; nhìn thấy Mẹ, những tâm hồn mệt mỏi có thể hiểu rằng Thiên Chúa chưa quên con người; nhìn thấy Mẹ, những ai đang bị bóng tối vây bủa có thể nhận ra rằng ánh sáng đã bắt đầu ló dạng ở chân trời.

 
Khi bình minh xuất hiện, đêm tối chưa hoàn toàn biến mất. Trên mặt đất vẫn còn những vùng chìm trong bóng đêm, vẫn còn hơi lạnh, vẫn còn sương mù, vẫn còn những con đường chưa nhìn thấy rõ. Đức Maria chào đời giữa một thế giới cũng còn đầy bóng tối như thế. Dân Israel khi ấy đang sống dưới ách thống trị của đế quốc Rôma; người nghèo bị áp bức; những người bé nhỏ bị lãng quên; tội lỗi, bạo lực, bất công và tuyệt vọng vẫn đè nặng trên nhân loại. Không có tiếng kèn vang lên khi Mẹ chào đời; không có sắc chỉ nào của hoàng đế ghi nhận biến cố ấy; không có sử gia trần thế nào biết rằng trong một gia đình âm thầm, một hài nhi bé nhỏ vừa cất tiếng khóc, và tiếng khóc ấy lại là dấu hiệu cho thấy giờ cứu độ đang đến gần. Thiên Chúa thường hành động như vậy. Người không nhất thiết bắt đầu công trình lớn lao bằng những biến cố ồn ào. Người có thể đặt cả tương lai cứu độ của nhân loại trong sự sống nhỏ bé của một trẻ thơ. Người có thể chuẩn bị điều vĩ đại trong một mái nhà nghèo nàn. Người có thể làm nảy mầm hy vọng ở nơi chẳng ai chú ý. Con người thích tiếng động lớn, những gì rực rỡ, những gì lập tức gây chú ý; còn Thiên Chúa lại yêu thích hạt giống, men trong bột, giọt sương, ánh bình minh và những khởi đầu âm thầm. Ngày Đức Maria chào đời nhắc chúng ta rằng sự im lặng của Thiên Chúa không phải là sự vắng mặt; sự chậm trễ của Thiên Chúa không phải là lãng quên; và những gì còn nhỏ bé hôm nay có thể đang mang trong mình một chương trình lớn lao của Người.

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe không kể lại hoàn cảnh Đức Maria chào đời, cũng không cho biết tuổi thơ của Mẹ diễn ra thế nào. Tin Mừng đưa chúng ta đi qua một bản gia phả dài với những cái tên có lúc rất xa lạ. Thoạt nghe, ta có thể thấy đó chỉ là một danh sách khô khan: người này sinh người kia, thế hệ này nối tiếp thế hệ khác. Nhưng phía sau từng cái tên là một cuộc đời; phía sau mỗi thế hệ là những vui buồn, trung thành và phản bội, ánh sáng và bóng tối, thánh thiện và tội lỗi. Gia phả của Đức Giêsu không phải là gia phả gồm toàn những con người hoàn hảo. Trong đó có Ápraham, người đã tin vào lời Chúa nhưng cũng từng yếu đuối; có Giacóp với một lịch sử đầy quanh co; có Giuđa và Tama với một câu chuyện không mấy đẹp đẽ; có Rakháp là người ngoại và từng mang một quá khứ bị coi thường; có Rút là người phụ nữ Môáp; có vua Đavít vừa là vị vua được Thiên Chúa tuyển chọn vừa là người từng phạm trọng tội; có những vị vua đạo đức nhưng cũng có những ông vua bất trung; có thời kỳ huy hoàng của vương quốc nhưng cũng có nỗi nhục lưu đày Babylon. Tất cả những dòng lịch sử ấy cuối cùng dẫn tới “ông Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu, cũng gọi là Đấng Kitô”. Điều này cho thấy Thiên Chúa không cứu nhân loại từ bên ngoài lịch sử, nhưng bước vào chính lịch sử đầy thương tích của con người. Người không đợi gia đình nhân loại trở nên hoàn hảo rồi mới đến; Người đến để chữa lành gia đình ấy. Người không loại bỏ những trang sử đen tối, nhưng âm thầm viết đường thẳng trên những dòng đời cong queo. Người không phủ nhận quá khứ của con người, nhưng mở ra cho con người một tương lai mới.

Đức Maria là ánh bình minh xuất hiện sau một đêm rất dài. Đêm ấy kéo dài từ khi con người quay lưng lại với Thiên Chúa trong vườn địa đàng; từ khi tội lỗi đi vào thế gian, khiến con người sợ hãi, đổ lỗi và trốn chạy; từ khi Cain giơ tay sát hại em mình; từ những cuộc chiến tranh, phản bội, lưu đày và khổ đau của nhân loại. Nhưng ngay trong đêm tối đầu tiên ấy, Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người. Người đã hứa rằng dòng dõi người nữ sẽ đạp đầu con rắn. Lời hứa ấy đi qua bao thế hệ, có lúc tưởng như chỉ còn là một đốm lửa rất nhỏ trước những cơn gió dữ của lịch sử. Vậy mà Thiên Chúa vẫn trung thành. Đức Maria chào đời chính là dấu chỉ cho thấy lời hứa xưa không bị quên lãng. Mẹ là người nữ được Thiên Chúa chuẩn bị để đón nhận Con Một của Người; là mảnh đất tinh tuyền để Ngôi Lời gieo mình vào lòng nhân loại; là cung lòng nơi Đấng vô hình mang lấy khuôn mặt con người; là mái nhà đầu tiên của Đấng không tầng trời nào chứa nổi; là người trao cho Con Thiên Chúa dòng máu, nhịp tim và thân xác nhân loại. Trong Mẹ, lịch sử chờ mong của Cựu Ước bắt đầu chạm tới sự viên mãn. Trong Mẹ, lời hứa trở nên gần gũi đến mức có thể được cưu mang. Trong Mẹ, Thiên Chúa chuẩn bị bước vào cuộc đời chúng ta không bằng sấm chớp, nhưng bằng thân phận của một hài nhi.

Ánh bình minh không gây chói mắt. Nó đến rất nhẹ, rất êm, gần như không ai nghe được tiếng bước chân của nó. Đức Maria cũng đi vào lịch sử cứu độ với sự khiêm nhường như thế. Mẹ không xuất hiện như một nữ hoàng quyền lực theo kiểu thế gian, không có quân đội, không có ngai vàng, không có tài sản hay thế lực. Mẹ là một thiếu nữ Nadarét, thuộc một làng nhỏ đến độ sau này có người phải hỏi: “Từ Nadarét, làm sao có cái gì hay được?” Nhưng chính nơi mà con người cho là nhỏ bé ấy, Thiên Chúa đã tìm thấy một tâm hồn đủ trống để đón Người, đủ trong để phản chiếu ánh sáng của Người, đủ khiêm nhường để không giữ vinh quang cho mình. Vẻ đẹp lớn nhất của Đức Maria không nằm ở những đặc ân tách Mẹ khỏi chúng ta, nhưng ở việc Mẹ để cho ân sủng Thiên Chúa hoàn toàn hoạt động trong đời mình. Mẹ không chiếm chỗ của Thiên Chúa; Mẹ dành chỗ cho Thiên Chúa. Mẹ không kéo mọi ánh nhìn về mình; Mẹ hướng mọi ánh nhìn về Con của Mẹ. Tại Cana, lời căn dặn đẹp nhất Mẹ dành cho nhân loại là: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ giống như bình minh không nói về mình nhưng chỉ nói rằng: Mặt Trời đang đến; hãy mở cửa, hãy thức dậy, hãy bước ra khỏi bóng tối, hãy chuẩn bị tâm hồn đón ánh sáng.

Bình minh còn là giờ của niềm hy vọng. Một người đi qua đêm dài sẽ hiểu ánh sáng đầu ngày quý giá đến mức nào. Khi đau bệnh kéo dài, một dấu hiệu bình phục nhỏ bé cũng có thể trở thành bình minh. Khi gia đình trải qua những ngày căng thẳng, một lời xin lỗi chân thành có thể là bình minh. Khi một người đã chìm lâu trong tội lỗi, giây phút họ muốn trở về có thể là bình minh. Khi một tâm hồn tưởng mình đã mất đức tin nhưng vẫn còn biết thưa một câu rất nhỏ: “Lạy Chúa, xin thương con”, lời cầu ấy đã là bình minh. Khi một người từng khép lòng lại bắt đầu muốn tha thứ, dù chưa thể tha thứ trọn vẹn, ước muốn ấy cũng là bình minh. Khi một cộng đoàn biết từ bỏ ganh đua để trở về với hiệp nhất, đó là bình minh. Khi con người biết nhìn người nghèo không như một gánh nặng nhưng như người anh em, đó là bình minh của Nước Trời. Khi giữa một thế giới đầy lời độc ác vẫn có người chọn nói lời xây dựng; giữa một xã hội chạy theo lợi ích vẫn có người âm thầm sống lương thiện; giữa một thời đại thích phô bày vẫn có người trung tín làm việc tốt trong kín đáo, thì ánh bình minh của Thiên Chúa vẫn đang xuất hiện.

Có thể hôm nay nhiều người trong chúng ta đang sống giữa đêm tối riêng của mình. Có người mang nỗi đau bệnh tật mà không biết ngày mai sẽ ra sao. Có người đang chịu một vết thương gia đình, ở chung một mái nhà nhưng lòng đã xa nhau. Có người lo lắng vì con cái rời xa đức tin. Có người mệt mỏi vì đã cầu nguyện rất lâu mà dường như Chúa vẫn im lặng. Có người bị hiểu lầm, bị phản bội, bị bỏ quên. Có người phải mang một lỗi lầm cũ như mang tảng đá trên ngực, không tin rằng mình còn xứng đáng được yêu thương. Có người bên ngoài vẫn cười nhưng bên trong đã gần cạn kiệt sức sống. Mừng sinh nhật Đức Maria, Hội Thánh không bảo chúng ta giả vờ rằng đêm tối không hiện hữu. Đức tin Kitô giáo không phải là nhắm mắt trước khổ đau rồi tự trấn an rằng mọi sự đều ổn. Bình minh không phủ nhận đêm tối; bình minh đi vào đêm tối và làm cho nó bắt đầu rút lui. Đức Maria không được miễn khỏi thử thách. Mẹ từng bối rối trước lời truyền tin; từng phải sinh Con trong cảnh nghèo; từng bồng Con chạy trốn sang Ai Cập; từng nghe cụ già Simêon báo trước một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn; từng lạc mất Con; từng không hiểu hết con đường của Con; và cuối cùng đã đứng dưới chân thập giá nhìn Con mình chết trong đau đớn. Mẹ là bình minh không phải vì đời Mẹ không có đêm tối, nhưng vì giữa mọi đêm tối, Mẹ không đánh mất lòng tin vào Thiên Chúa.

Điều làm Mẹ trở thành bình minh của hy vọng chính là Mẹ đã để cho lời hứa của Thiên Chúa lớn hơn những gì mắt mình nhìn thấy. Tại Nadarét, Mẹ thưa “Xin vâng” khi chưa biết con đường phía trước sẽ dẫn về đâu. Tại Bêlem, Mẹ tin trong cảnh nghèo khó. Trên đường sang Ai Cập, Mẹ tin giữa lưu đày. Trong những năm âm thầm tại Nadarét, Mẹ tin giữa những ngày tháng rất bình thường. Tại Cana, Mẹ tin ngay cả khi Đức Giêsu trả lời rằng giờ của Người chưa đến. Trên đồi Canvê, Mẹ tiếp tục đứng đó khi tất cả dường như đã sụp đổ. Ngày thứ Bảy Tuần Thánh là đêm tối nhất, khi Người Con đã chết, tảng đá đã lấp cửa mộ và lời hứa xem ra bị chôn vùi. Nhưng chính trong đêm ấy, đức tin của Mẹ vẫn như ngọn đèn không tắt. Mẹ đã sống điều mà mỗi chúng ta cần học: đức tin không chỉ là tin khi thấy phép lạ, nhưng còn là trung thành khi chưa thấy gì; không chỉ là ca tụng Chúa khi đời thuận lợi, nhưng còn là giữ lấy lời Chúa khi mọi dấu hiệu bên ngoài dường như chống lại lời ấy. Có những lúc chúng ta không thể làm cho mặt trời mọc nhanh hơn, nhưng chúng ta có thể cùng Mẹ đứng chờ bình minh.

Ngày sinh của Đức Maria còn nói với chúng ta về phẩm giá của mỗi sự sống con người. Khi Mẹ vừa chào đời, chưa ai nhìn thấy những gì Mẹ sẽ thực hiện. Hài nhi Maria chưa nói được lời “Xin vâng”; chưa đi thăm bà Êlisabét; chưa hát kinh Magnificat; chưa sinh Chúa Giêsu tại Bêlem; chưa đứng dưới chân thập giá; chưa hiện diện giữa Hội Thánh sơ khai. Nhưng tất cả đã nằm như một lời mời gọi trong sự sống bé nhỏ ấy. Một trẻ thơ chưa thể làm điều gì lớn lao theo tiêu chuẩn của xã hội, nhưng em đã quý giá vì em là quà tặng của Thiên Chúa. Giá trị của con người không bắt đầu khi người ấy có khả năng làm việc, kiếm tiền, đạt thành tích hay được người khác công nhận. Giá trị ấy bắt đầu từ việc người ấy được Thiên Chúa muốn, biết đến và yêu thương. Mừng sinh nhật Đức Mẹ, chúng ta được mời gọi biết trân trọng mọi sự sống: sự sống của thai nhi chưa chào đời, của trẻ nhỏ, của người khuyết tật, của người già yếu, của bệnh nhân không còn khả năng tự chăm sóc, của người nghèo bị xã hội xem thường. Không một người nào là thừa thãi trong chương trình của Thiên Chúa. Có những con người mà thế gian chỉ thấy là gánh nặng, nhưng Thiên Chúa lại nhìn thấy nơi họ một mầu nhiệm cần được đón nhận và yêu thương.

Gia phả Đức Giêsu cũng giúp chúng ta hiểu rằng không gia đình nào hoàn toàn chỉ có ánh sáng. Gia đình nào cũng mang theo những câu chuyện chưa lành, những lỗi lầm khó nói, những tương quan đổ vỡ và những giọt nước mắt không ai biết. Có người xấu hổ về quá khứ của gia đình mình; có người đau vì cha mẹ; có người thất vọng vì con cái; có người mang những vết thương đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhưng bản gia phả hôm nay loan báo một Tin Mừng rất lớn: Thiên Chúa không sợ bước vào một lịch sử không hoàn hảo. Chúa Giêsu đã không chọn cho mình một gia phả sạch sẽ theo tiêu chuẩn của con người. Người đón nhận những con người cụ thể, với cả vinh quang lẫn tủi nhục của họ, để cứu chuộc từ bên trong. Vì thế, chúng ta không được tuyệt vọng về gia đình mình. Những sai lầm của cha ông không buộc chúng ta phải lặp lại mãi. Những tổn thương đã nhận không nhất thiết phải trở thành tổn thương ta gây cho người khác. Với ân sủng của Chúa, một chuỗi dài giận dữ có thể dừng lại nơi một người biết tha thứ; một truyền thống bạo lực có thể kết thúc nơi một người chọn hiền hòa; một lịch sử nguội lạnh có thể được đổi mới nơi một người bắt đầu cầu nguyện. Chỉ cần một tâm hồn biết thưa “Xin vâng”, Thiên Chúa có thể mở ra một bình minh cho cả gia đình.

Mừng sinh nhật Mẹ, chúng ta cũng nên tự hỏi: sự hiện diện của tôi trong gia đình và cộng đoàn là bình minh hay là một lớp mây đen? Sau khi gặp tôi, người khác có thêm hy vọng hay thêm mệt mỏi? Lời tôi nói có giúp người đang đau được nâng dậy hay làm vết thương của họ sâu thêm? Tôi có biết nhìn thấy điều tốt đang nảy mầm nơi người khác, hay chỉ quen soi tìm những khiếm khuyết? Tôi có mang sự dịu dàng của Đức Maria đến cho người yếu đuối, hay nhân danh sự thật để kết án họ? Có những người không cần chúng ta giải quyết tất cả vấn đề của họ; họ chỉ cần một người chịu ngồi bên cạnh, lắng nghe mà không phán xét, nắm lấy tay họ và giúp họ tin rằng đêm tối rồi sẽ qua. Chúng ta không phải là Mặt Trời; chúng ta không thể cứu ai bằng sức riêng. Nhưng nhờ Đức Kitô, chúng ta có thể trở thành một tia sáng nhỏ. Một lời cảm ơn, một cuộc thăm hỏi, một bữa cơm được chia sẻ, một sự hiện diện trung thành, một lời cầu nguyện âm thầm, một quyết định không trả đũa, một sự phục vụ không cần được biết đến: tất cả đều có thể trở thành ánh bình minh trong cuộc đời người khác.

Bài Tin Mừng nói rằng người con Đức Maria cưu mang sẽ được đặt tên là Giêsu, “vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. Đây là điểm chúng ta không được quên: Đức Maria là bình minh vì Mẹ mang đến cho chúng ta Đức Giêsu. Nếu tách Mẹ khỏi Đức Kitô, lòng sùng kính của chúng ta sẽ mất phương hướng. Mẹ không giữ người tín hữu ở lại với mình, nhưng dẫn họ đến với Con. Mẹ không cứu chúng ta thay cho Đức Kitô, nhưng Mẹ đưa chúng ta đến gần Đấng Cứu Độ. Mẹ không thay thế Tin Mừng, nhưng toàn thể cuộc đời Mẹ là một lời mời gọi hãy đón nhận Tin Mừng. Ánh sáng nơi Mẹ là ánh sáng của Con Mẹ phản chiếu. Sự thánh thiện nơi Mẹ là hoa trái của ơn cứu chuộc Đức Kitô. Vì thế, món quà đẹp nhất dâng Mẹ trong ngày sinh nhật không chỉ là hoa nến, lời ca hay những cuộc rước long trọng, nhưng là một quyết định trở về với Chúa Giêsu. Nếu đang sống trong tội lỗi, hãy can đảm đến với bí tích Hòa Giải. Nếu đang nuôi hận thù, hãy xin Mẹ giúp ta bắt đầu tha thứ. Nếu đã lâu không cầu nguyện, hãy bắt đầu lại bằng một kinh Kính Mừng chậm rãi. Nếu đời sống gia đình đang nguội lạnh, hãy cùng nhau dành một ít phút cho Chúa. Nếu đang bỏ quên một người nghèo, hãy biến lòng sùng kính Mẹ thành một hành động yêu thương cụ thể. Chúng ta không thể vừa yêu mến Mẹ vừa từ chối Con của Mẹ; không thể đọc kinh kính Mẹ mà vẫn đóng cửa lòng trước người anh chị em; không thể ca ngợi sự khiêm nhường của Mẹ mà lại chạy theo hư danh; không thể ngắm Mẹ đứng dưới chân thập giá mà lại bỏ rơi người đang đau khổ bên cạnh mình.

Lời ngôn sứ được Tin Mừng nhắc lại hôm nay là: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel”, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Đây chính là Tin Mừng mà ánh bình minh Maria báo trước: Thiên Chúa không đứng xa chúng ta. Người không nhìn đau khổ của nhân loại từ một nơi an toàn. Người đến ở cùng. Người bước vào gia phả đầy vết thương của chúng ta. Người ở cùng người nghèo, người tội lỗi, người bệnh tật, người bị loại trừ. Người ở cùng chúng ta trong những ngày vui và những đêm dài. Có thể Người không cất ngay chén đắng, nhưng Người uống chén ấy với chúng ta. Có thể Người không ngăn mọi cơn bão, nhưng Người bước vào thuyền. Có thể Người không trả lời theo cách ta mong đợi, nhưng Người không bao giờ bỏ mặc ta. Đức Maria là dấu chỉ dịu dàng của sự hiện diện ấy. Nơi Mẹ, Thiên Chúa đến gần nhân loại đến mức nhận lấy thịt máu của nhân loại. Nơi Mẹ, trời không còn xa đất. Nơi Mẹ, Đấng vĩnh cửu bước vào thời gian; Đấng giàu có trở nên nghèo; Đấng quyền năng trở thành một hài nhi cần được bồng ẵm.

Bởi vậy, ngày lễ hôm nay là ngày của niềm vui, nhưng đó không phải là niềm vui dễ dãi. Đó là niềm vui của người đã nhìn thấy ánh sáng đầu tiên sau một đêm dài; niềm vui đặt nền trên sự trung tín của Thiên Chúa chứ không dựa vào hoàn cảnh chóng qua. Chúng ta vui không phải vì đời đã hết đau khổ, nhưng vì đau khổ không còn là tiếng nói cuối cùng. Chúng ta vui không phải vì tội lỗi đã hoàn toàn biến mất, nhưng vì Đấng cứu chúng ta khỏi tội lỗi đã đến. Chúng ta vui không phải vì cái chết không còn chạm đến thân phận con người, nhưng vì Đức Kitô đã bước qua cái chết và mở cửa phục sinh. Chúng ta vui vì giữa bao đổi thay, Thiên Chúa vẫn trung tín; giữa bao phản bội, Người vẫn giữ lời; giữa bao khép kín, Người vẫn tìm một cánh cửa để bước vào; giữa bao đêm tối, Người vẫn làm mọc lên bình minh.

Xin Đức Maria, bình minh báo trước Mặt Trời Công Chính, dạy chúng ta biết chờ đợi Chúa mà không tuyệt vọng; biết giữ lời Chúa khi chưa hiểu hết; biết khiêm nhường để ánh sáng của Chúa chiếu qua cuộc đời mình; biết âm thầm chuẩn bị những con đường cho Chúa đến với người khác. Xin Mẹ ở bên những ai đang sống trong đêm tối bệnh tật, cô đơn, tang tóc, thất bại và tội lỗi. Xin Mẹ nhắc họ rằng đêm dù dài đến đâu cũng không thể chiến thắng bình minh; nước mắt dù nhiều đến đâu cũng không thể xóa bỏ lời hứa của Thiên Chúa; ngôi mộ dù nặng nề đến đâu cũng không thể giam giữ Đấng Phục Sinh. Xin Mẹ giúp mỗi gia đình trở thành một Nadarét nhỏ, nơi Đức Giêsu được đón nhận, yêu mến và lớn lên; giúp mỗi cộng đoàn trở thành nơi những người bé nhỏ tìm được chỗ nương thân; giúp mỗi người chúng ta biết mang đến cho đời một chút ánh sáng thay vì làm bóng tối dày thêm.

Hôm nay, trong ngày sinh nhật Mẹ, chúng ta có thể thưa với Mẹ bằng tất cả lòng con thảo: Lạy Mẹ Maria, cảm ơn Mẹ đã chào đời cho niềm hy vọng của chúng con được rạng sáng; cảm ơn Mẹ đã thưa lời “Xin vâng” để Mặt Trời Công Chính đi vào thế giới; cảm ơn Mẹ đã trao cho nhân loại Đức Giêsu là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng con. Xin Mẹ đừng để chúng con sợ hãi khi trời còn tối. Xin dạy chúng con nhận ra những dấu chỉ nhỏ bé của ân sủng, biết kiên nhẫn với những khởi đầu mong manh, biết tin rằng Thiên Chúa vẫn đang làm việc ngay cả khi chúng con chưa nhìn thấy. Và xin cho chính cuộc đời chúng con cũng trở thành một ánh bình minh: không ồn ào nhưng trung tín, không phô trương nhưng ấm áp, không tìm mình nhưng hướng mọi người về Đức Kitô. Để qua cách chúng con sống, yêu thương, phục vụ và tha thứ, những người đang mỏi mệt có thể nhận ra rằng Thiên Chúa chưa quên họ, Thiên Chúa vẫn ở cùng họ, đêm tối đang qua và Mặt Trời cứu độ đã thực sự đến gần. Amen.

 

Tác giả bài viết: Lm. Anmai, CSsR

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập59
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm55
  • Hôm nay7,726
  • Tháng hiện tại188,637
  • Tổng lượt truy cập13,147,969
Tuyển tập Mục Đồng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây