Hy vọng của dân Thiên Chúa trong thời lưu đày

Thứ hai - 15/06/2026 10:46 5 0



Bài 2: Hy vọng của dân Thiên Chúa trong thời lưu đày


Trong lịch sử dân Israel, đất đai, Đền Thờ và vương quyền là những yếu tố cốt lõi giúp dân duy trì giao ước với Thiên Chúa. Đất Israel không chỉ là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, mà còn là dấu chỉ cụ thể của giao ước giữa Người và dân riêng của Người. Thật vậy, Thiên Chúa đã hứa với Israel rằng: “Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, sẽ đưa ngươi trở về đất mà cha ông ngươi đã chiếm hữu; ngươi sẽ chiếm hữu đất ấy. Người sẽ ban phúc lành cho ngươi và làm cho ngươi đông đúc hơn cha ông ngươi” (Đnl 30,5).

Và với vua Đavít, Thiên Chúa cũng đã hứa: “Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền đến muôn đời” (2 Sm 7,16). Thế nhưng, biến cố lưu đày đã làm cho Israel dường như mất tất cả: đất đai, Đền Thờ và vương quyền. Ba trụ cột căn bản của căn tính dân tộc đã hoàn toàn sụp đổ. Trong hoàn cảnh ấy, dân lưu đày không khỏi tự hỏi: Họ còn là dân của Thiên Chúa nữa không? Họ còn được sống trong giao ước với Người không?

Ngôn sứ Êdêkien cũng đang sống giữa dân bị lưu đày tại Babylon – một dân tộc bị phân tán giữa chư dân, bị coi như những kẻ tội lỗi đang chịu hình phạt của Thiên Chúa, và dường như không còn hy vọng được trở về. Giữa cảnh lưu lạc ấy, dân Israel cũng không ngừng băn khoăn tự hỏi: Phải chăng Thiên Chúa đã quên dân của Người, dân mà Người đã thiết lập giao ước trong tình yêu?

Chính giữa vực thẳm của tuyệt vọng, sấm ngôn của vị ngôn sứ Êdêkien vang lên như sứ điệp của niềm hy vọng, như ánh sáng bừng lên từ tận cùng đêm tối của thất vọng. Sứ điệp ấy không bị giam giữ trong quá khứ của dân Israel, nhưng vẫn tiếp tục ngân dài trong lịch sử cứu độ, và hôm nay, chạm đến tận sâu thẳm tâm hồn của những người tận hiến.

Dân Israel đã từng đặt căn tính của mình trên những cột trụ hữu hình: đất đai, Đền Thờ, vương quyền. Nhưng khi tất cả sụp đổ, họ khám phá ra rằng những gì tưởng là vững bền lại mong manh. Chính trong đổ vỡ ấy, một câu hỏi âm thầm trỗi dậy: đâu là nền tảng thật của đời mình?

Cũng thế, trong đời sống thánh hiến, đâu là những cột trụ làm nên căn tính của chúng ta? Nếu không phải là Đức Giêsu Kitô - Đấng duy nhất đáng để trao hiến trọn vẹn - thì phải chăng, nhiều lần trong âm thầm, chúng ta cũng đã xây dựng đời mình trên những thực tại chóng qua, những điều không làm ta đứng vững khi những cái chóng qua ấy sụp đổ?

 

1. Hy vọng nơi Thiên Chúa, Đấng đón nhận chúng ta như chúng ta là.

 
Lịch sử hình thành sách Êdêkien cho thấy rằng một phần của tác phẩm này được hình thành trong bối cảnh Israel đang sống nơi đất lưu đày Babylon. Đó là một miền đất ngoại giáo, không có Đền Thờ để dâng lễ thờ phượng Thiên Chúa; vì thế, trong tâm thức của nhiều người Israel, đây dường như là nơi vắng bóng sự hiện diện của Thiên Chúa.

Trong cái nhìn của những người Israel không bị lưu đày, cũng như trong tâm thức của các dân ngoại, những người lưu đày bị xem như đang phải gánh chịu hình phạt của Thiên Chúa: họ bị tách lìa khỏi Đền Thờ, bị đẩy xa khỏi không gian linh thiêng, và dường như bị đặt bên ngoài tương quan giao ước với chính Thiên Chúa của mình.

Thế nhưng, chính giữa bầu khí tuyệt vọng ấy, Lời hứa của Thiên Chúa đã làm thay đổi tất cả. Sự sụp đổ của Đền Thờ Giêrusalem không thể ngăn cản sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Ngài. Ngài hứa sẽ đến ở với dân đang lưu đày, đồng hành với họ và hiện diện giữa họ: “ Hãy nói với dân: Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Chính Ta đã đưa chúng đi xa giữa các dân, đã phân tán chúng vào các xứ. Nhưng Ta đã trở thành cho chúng một đền thánh, ngay tại các xứ chúng đã đến” (Ed 11,14-16).

Đền Thờ Giêrusalem là trung tâm thờ phượng, là biểu tượng hiện diện của Thiên Chúa, thế nhưng, Thiên Chúa không bị giới hạn bởi những tường thành hay kiến trúc vật chất. Ngài vẫn luôn hiện diện giữa dân Ngài, đồng hành cùng họ ngay cả trong cảnh lưu đày, nơi đất khách quê người. Thiên Chúa không bỏ dân, Ngài ở giữa họ, trong nỗi khốn cùng của họ, Ngài ở trong chính trái tim họ (Ed 11,14-16). Bức tường Babylon, bờ sông Babylon, hay sự sụp đổ của tường thành Giêrusalem, không có gì ngăn cách được Thiên Chúa với dân mà Ngài yêu thương.

Nếu như dân lưu đày mang nỗi thất vọng vì đối với họ Ngài như đang ở xa, Ngài như vắng bóng, cuộc đời chúng ta cũng lắm lúc tưởng mình như chìm trong tuyệt vọng vì không thấy Thiên Chúa ở đâu. Đau khổ, thất bại, hiểu lầm, tội lỗi hay đêm tối của đức tin làm con tim chơi vơi giữa khung trời dường như vắng lặng sự hiện diện của Thiên Chúa.

Sứ điệp của ngôn sứ Êdêkien cho ta hiểu rằng sự hiện diện của Thiên Chúa vượt trên mọi nơi chốn, mọi không gian, mọi thời gian và tình yêu của Ngài lớn hơn tội lỗi và bất trung của ta. Người hiện diện trong tất cả, vượt trên tất cả, Ngài ở trong tim ta, trong linh hồn ta trong từng hơi thở và nơi sâu kín nhất của linh hồn ta. Không phải chỉ là ta đi tìm Ngài nhưng là Ngài đi tìm ta. Không phải chỉ là dân Chúa tìm đến thờ phượng Thiên Chúa trong Đền Thờ, mà chính Thiên Chúa cũng đến để ở với dân của Ngài, ngay giữa đất lưu đày Babylon. Ngài tìm kiếm họ, hiện diện với họ, nâng đỡ và đồng hành cùng họ trong mọi hoàn cảnh, dù xa Đền Thờ hay quê hương. Ngài ở trong trái tim họ: “Ta sẽ đặt thần khí của Ta trong các ngươi.” (Ed 36,27; 37,14).

Đất lưu đày được cho là nơi ô uế, thế nhưng Thiên Chúa bước vào đó. Ngài đã «bước xuống» để đến gần con người, để đồng hành với dân trong lưu đày. Người bước xuống giữa những trái tim lạc lõng, giữa những bước chân chênh vênh nơi đất dân ngoại xa lạ và bị cho là ô uế. Người không bỏ rơi họ. Trong từng nỗi cô đơn, trong từng tiếng thở dài của họ, Người vẫn hiện diện, nâng đỡ và thắp lên hy vọng.
Người hứa: “Ta sẽ trở thành đền thờ của các ngươi, ngay tại nơi các ngươi bị phân tán” (Ed 11,14-16). Lời hứa ấy vang vọng, dịu dàng nhưng chắc chắn, như mạch nước chảy thầm dưới đá vọt lên tuôn trào sự sống, nuôi dưỡng niềm tin nơi dân tộc tưởng chừng đã chết.

Và trong Đức Kitô, lời hứa ấy trở thành hiện thực trọn vẹn. «Đức Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng Người đã tự hạ mình, mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập giá» (Phil 2,5-8). Quả thế, trong Mầu Nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa đã đến thật gần, chạm đến từng con tim, để chúng ta biết rằng không nơi nào, không đau khổ nào có thể ngăn Người yêu thương và cứu rỗi chúng ta.

Như vậy, trong sự sụp đổ của Đền Thờ, trong cảnh lưu đày, trong những khoảng tối của cuộc sống, Thiên Chúa đã bước xuống và ở cùng. Người bước xuống, đồng hành, chạm đến và biến mọi trái tim trở thành ngôi đền thánh – nơi Người hiện diện, nơi hy vọng được hồi sinh, nơi mỗi người được nhắc nhở rằng Thiên Chúa không bao giờ rời bỏ họ. Trong đau khổ, nước mắt, thất bại, Người mời ta hy vọng vào Người trong mọi hoàn cảnh. Vì “Đức Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ ai? Hãy cậy trông Đức Chúa, mạnh mẽ lên, can đảm lên! Hãy cậy trông Đức Chúa.” (Tv 27(26),1.13-14) 

 

2. Từ một niềm hy vọng hướng về các vua đến niềm hy vọng nương tựa hoàn toàn vào Thiên Chúa

 
Trong nhiều văn bản Cận Đông cổ, hình ảnh “mục tử” (רעה) được dùng để chỉ các thần linh và các vua. Vua Hammurabi của Babylon tự xưng là “mục tử mang ơn cứu độ”; Mérodach-Baladan II cũng được gọi là “mục tử quy tụ những kẻ lạc đường”.

Ở Ai Cập, danh xưng “mục tử” dành cho vua còn mang ý nghĩa phổ quát: vua là mối liên kết giữa thần linh và loài người, bảo đảm sự thịnh vượng cho dân.

Trong sách Đệ Nhị Luật, vua là trung gian giữa Thiên Chúa và dân (Đnl 17; 28). Thật vậy, trong thời quân chủ, căn tính Israel xoay quanh nhà vua như trung gian các ân huệ của Thiên Chúa cho dân. Thế nhưng, ở thời lưu đày, vương quốc Itraen không còn vua nữa. Sự sụp đổ của vương quyền cũng làm lung lay căn tính dân tộc Israel.
Các biến cố năm 598 và 587 TCN (hai lần Giêrusalem thất thủ) là khúc ngoặt đen tối cho dân Israel. Họ sẽ sống tương quan với Thiên Chúa thế nào khi không còn vua ?

Chính trong hoàn cảnh đó, qua hình ảnh người mục tử, Êdêkien công bố rằng Thiên Chúa mới là vị Mục tử đích thực, là vị Vua đích thực của Israel: “ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này: Đây Ta chống lại các mục tử. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta; Ta sẽ không để chúng chăn dắt chiên, và các mục tử sẽ không còn lo cho mình. Ta sẽ giải thoát các chiên của Ta khỏi miệng chúng, để chiên của Ta không còn làm mồi cho chúng nữa. Quả thật, ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này: Đây, chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta và sẽ canh chừng chúng» (Ed 34,10-11).

“ Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng.16 ​Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khỏe mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng.” (Ed 34,15-16).

Các động từ trong Kinh Thánh như “chăn dắt”, “cho nghỉ ngơi”, “băng bó vết thương” không chỉ diễn tả hành động chăm sóc, mà còn thể hiện tình yêu cụ thể, thân mật của Thiên Chúa, và đặc biệt các từ thường dùng để nói về ơn cứu độ. Niềm hy vọng của dân lưu đày vì thế không chỉ là niềm ước mong được trở về quê cha đất tổ, mà còn là niềm ước mong được tha thứ và được chữa lành nội tâm, là niềm ước mong ơn cứu độ.

Trong sứ điệp của ngôn sứ Êdêkien, vương quyền của Thiên Chúa trở thành nền tảng mới của niềm hy vọng. Nhờ sứ điệp này, dân Chúa có thể vượt qua nỗi thất vọng, đau khổ, do sự sụp đổ của vương triều Đavít và tìm lại căn tính của dân Thiên Chúa. Như thế, biến cố đau thương của lưu đày cũng trở thành sứ điệp hy vọng, nơi tình yêu và quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện.

Trong đời sống của người tín hữu, đặc biệt trong đời sống thánh hiến, cũng có nhiều thần tượng khác hấp dẫn chúng ta. Vua của linh hồn chúng ta là ai ? Nếu chúng ta mãi để cho ý riêng, cho những thành công, cho những khát vọng trần thế chiếm lấy linh hồn chúng ta. Đức Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh có còn là vị vua duy nhất của linh hồn ta ? Chúng ta có để cho Ngài điều khiển những chọn lựa kín đáo nhất, hướng dẫn những khát vọng âm thầm nhất của đời ta.

Như thế, mỗi chúng ta được mời gọi không ngừng trở về, thanh luyện lại mọi chọn lựa, mọi ước mơ để chỉ một mình Thiên Chúa là niềm hy vọng duy nhất. Bởi chỉ khi để cho Thiên Chúa chiếm trọn con tim, chúng ta mới thực sự tự do, và mới có thể sống trọn vẹn lời “xin vâng” trong niềm tín thác và yêu mến.

3. Từ niềm hy vọng vào các ơn ban của Thiên Chúa đến niềm hy vọng đặt vào chính Chúa

Sấm ngôn của Êdêkien mời gọi từ bỏ niềm hy vọng dựa trên các quà tặng bên ngoài – đất đai, đền thờ, vua – để đặt niềm hy vọng vào chính Thiên Chúa. Đối tượng của niềm hy vọng không phải là “một cái gì đó” mà là “Một Ngôi Vị” – là chính Thiên Chúa.

Sự chuyển hướng từ “cái gì đó” sang “Một Ngôi Vị” cũng là hành trình mà các tông đồ của Đức Giêsu đã trải qua. Tin Mừng Máccô 10,35-45 và Matthêu 20,20-28 kể chuyện các tông đồ Giacôbê và Gioan, khi mới theo Chúa, đã xin được ngồi bên hữu và bên tả Người trong vinh quang của Người – các ngài hy vọng vào địa vị danh dự như biểu tượng của quyền lực. Thế nhưng, sau biến cố Phục Sinh, các ngài đã đặt niềm hy vọng của mình vào chính Đức Giêsu Phục sinh và sẵn sàng dâng hiến mạng sống vì Người.

Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá cũng dạy chúng ta hy vọng ngay cả khi chẳng còn gì để hy vọng. Mẹ dạy chúng ta không ngừng cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh.

Thánh Têrêsa Avila cũng mời gọi chúng ta đặt niềm hy vọng vào một mình Thiên Chúa: “Chớ gì không gì làm bạn xao xuyến, không gì làm bạn sợ hãi. Mọi sự sẽ qua đi, và Thiên Chúa không bao giờ đổi thay. Ai có Thiên Chúa, chẳng thiếu chi. Chỉ mình Chúa là đủ.”

Bước đi từ hy vọng “cái gì đó” đến hy vọng “chính Thiên Chúa” là một hành trình hoán cải, hành trình của tình yêu. Vì Thiên Chúa là Đấng yêu thương. Sự viên mãn của căn tính con người là đón nhận “Một Đấng” yêu thương trong ta và để cho Ngài sống trong ta. Như thế yêu mến Thiên Chúa và tha nhân (Mt 22,37-39) trở thành biểu hiện sự viên mãn của niềm hy vọng.

4. Kết luận

 
Chính trong những đau khổ thử thách của thời lưu đày đã làm trỗi vang lên những sấm ngôn của niềm hy vọng. Chính khi mất đi tất cả những cái chóng qua, những điểm tựa không bền vững, Israel đã khám phá được nền tảng vững chắc cho hành trình hy vọng là chính Chúa. Tái khám phá lại nền tảng của niềm hy vọng chính là một cuộc trở về. Đó là cuộc trở về với Thiên Chúa là nguồn mạch của tất cả mọi niềm hy vọng. Đó là trở về với thượng nguồn của một mối tình linh thiêng huyền nhiệm để hiểu rằng, điều quan trọng không phải là quà tặng của Thiên Chúa mà là chính Thiên Chúa. Và hơn thế nữa, hy vọng đích thực mời gọi hướng về một tương lai xa hơn, một niềm hy vọng đích thực mang tính vĩnh hằng là chính Chúa.

Hy vọng không phải là chờ đợi thụ động một điều gì đó từ bên ngoài, nhưng là hành trình từ bên ngoài vào bên trong, là sự biến đổi chính bản thân ta, là đón nhận một SỰ HIỆN DIỆN lấp đầy khát vọng của ta.
Hy vọng là quay về với Thiên Chúa, với Lời của Người. Là lắng nghe một Thiên Chúa tình yêu nơi sâu thẳm lòng mình.

Bước đi trên cuộc lữ hành hy vọng là quay về Thiên Chúa tình yêu, nguồn mạch niềm hy vọng, là mở lòng ra với tình yêu vô biên của Người và để Lời Người biến đổi toàn bộ cuộc đời ta thành một SỨ ĐIỆP CỦA NIỀM HY VỌNG.

Tác giả bài viết: Nt. Maria Nguyễn Thị Diệu Hiền

 Tags: Hy vọng

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập38
  • Hôm nay10,206
  • Tháng hiện tại177,180
  • Tổng lượt truy cập11,229,293
Tuyển tập Mục Đồng
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây