Mỗi năm Giáng sinh về già trẻ lớn bé ai cũng nô nức háo hức mong đợi tới đêm diễn nguyện canh thức để được xem lại quá trình Con Thiên Chúa xuống thế qua biến cố nhập thể. Thường các chương trình canh thức năm nào cũng tái diễn lại phần tạo dựngtrong sách Sáng thế.
Tôi ngẫm nghĩ tại sao địa danh đầu tiên trên trái đất này là một khu vườn, “Vườn địa đàng”. Vườn mang ý nghĩa gì? Tôi muốn hiểu nó nhưng mãi cho đến khi tôi bắt gặp cuốn sách “Cuộc thương khó và thập giá” của Cha Ronald Rolhoiser tôi mới hiểu vườn là gì. Trong sách ghi: “Trong văn học cổ điển, vườn không phải là nơi trồng rau hành thu lợi, mà là nơi ấp ủ niềm vui, tình yêu. Vườn là nơi bạn bè gặp gỡ trong chén rượu, tình nhân tâm sự dưới ánh trăng, là nơi bày tỏ sự gần gũi thân mật. Vườn là thiên đường. Đó là lý do tại sao Kinh Thánh diễn tả Adam và Eva trong trạng thái nghịch lý khi họ ở trong vườn địa đàng.” (Linh mục Ronald Rolhoiser, Cuộc thương khó và thập giá, trang 19).
Khi nói tới vườn địa đàng ai trong chúng ta cũng nghĩ ngay tới một khu vườn đầy ánh sáng thơ mộng có cây xanh, suối mát rì rào, có tiếng chim hót, động vật bay nhảy, khu vườn với muôn màu sắc, phong cảnh vui thú của đất trời. Thế nhưng, kết thúc của vườn địa đàng lại là một màu sắc ảm đạm, lá cây ủ rủ, cảnh sắc đất trời u ám. Vì con người phạm tội và Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi khu vườn.
Adam cùng Eva lê bước đi ra khỏi vườn. Họra khỏi tình yêu mà Thiên Chúa đã ban tặng cho hai ông bà.
Tôi tưởng nghĩ, Thiên Chúa yêu con người biết bao!, Ngài đã tạo dựng vũ trụ cho con người. Ngài cho con người tất cả, dành hết tình yêu cho con người. Ấy vậy mà, con người bất tuân phản bội lại tình yêu của Ngài.
Cái ngày mà ông bà bị đuổi ra khỏi vườn, chắc Thiên Chúa đau buồn biết chừng nào!. Khi ông bà thấy mình trần truồng, thì bỏ trốn, không dám đối diện, hàn huyên với Thiên Chúa như những ngày trước đó. Thiên Chúa trách phạt tất cả, nhưng vẫn nén đau thương, tự tay Ngài làm cho ông bà bộ đồ bằng da thú. Chúa quyền năng, Người phán một lời là có trời, có đất, có muôn vật.Thế nhưng, để làm ra con người Chúa dùng bàn tay mà nắn và khi con người sa ngã Chúa đã tự tay làm quần áo cho con người mặc đề che thân. “Đức Chúa là Thiên Chúa làm cho con người và vợ con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ” ( St 3,21).
Có lẽ ngày ông bà cúi đầu lê bước ra khỏi khu vườn, chắc ông bà không biết rằng sau lưng ông bà,Thiên Chúa đang nhìn theo và có lẽ những giọt nước mắt của Ngài đang lăn dài từ khóe mi xuống cằm. Và, trái tim Thiên Chúa thổn thức, đau nhói biết bao!
Thế rồi, Chúa không bỏ rơi con người, vì tình yêu Ngài dành cho con người quá lớn, chính trong khu vườn địa đàng, con người đã ngục ngã trước cây sự chết thì nay Thiên Chúa cũng dùng khu vườn Giêtsimani để cứu con người chỗi dậy nhờ cây Thập giá.
Đối nghịch với vườn địa đàng đầy ánh sáng thì vườn Giêtsimani lại gợi lên một cảnh sắc ảm đạm, bóng tối phủ vây. Nơi ấy, không có tiếng chim hót nhưng là sự tĩnh lặng, cô tịch của màn đêm. Con Thiên Chúa đang buồn sầu xao xuyến trong tâm hồn. Quả là cảnh sắc đất trời và con người dường như có mối quan hệ mật thiết giữa cảnh và tình, thi hào Nguyễn Du đã tả tâm trạng này cách xuất sắc trong hai câu thơ nổi tiếng:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Khu vườn mang một ý nghĩa đẹp là tình yêu, là nơi bạn bè gặp gỡ trong chén rượu, chén trà, là nơi đôi tình nhân tâm sự dưới ánh trăng. Thế mà, Con Thiên Chúa trong vườn dầu đang thổn thức, đau khổ nội tâm vì vâng phục Chúa Cha, vì yêu nhân loại khốn cùng mà Con Thiên Chúa đã đến thế gian, đón nhận những gì đau khổ nhất, dã man nhất mà nhân loại sẽ gán xuống cho Ngài.
Trong cơn đau đớn cùng cực nhất, Con Thiên Chúa đã phải thốt lên “xin Cha cất chén đắng”. Phải chi là chén rượu nồng nàn tình yêu thì hay biết mấy, vui biết mấy, hạnh phúc biết bao. Thế nhưng, trong vườn lúc này là chén đắng của cõi lòng, cái đắng của tình yêu. Có lẽ Thiên Chúa Cha lúc này, Ngài cũng đang khóc với những giọt nước mắt âm thầm như năm xưa khi đành lòng nhìn con người ra khỏi vườn địa đàng, thì nay Ngài cũng đang đau đớn trước tiếng lòng thổn thức của đứa “Con yêu dấu” của Ngài.
Và rồi Con Chúa không làm Cha của mình thất vọng: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” (Lc 22,42).
Năm xưa trong vườn địa đàng con người bất tuân không vâng lời mà dẫn đến sự chết thì nay dưới sự vâng phục của Chúa Con mà con người được sống.
Bước ra khỏi khu vườn Giêtsimani, thì trời bắt đầu sáng, con đường Thập giá với những nỗi đau đớn trong thân xác không làm cho Con Chúa ngục ngã. Chúa Con đã toàn thắng trong ý riêng bằng cách đón nhận ý Cha với tình yêu. Nơi Thập giá là cây sự sống đã đơm hoa kết quả trong khu vườn.